Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

THỨ BA - NGÀY V TRONG TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH


Ngày 29 tháng 12

I. BÀI TIN MỪNG: 

Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa", và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông.Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Ki-tô của Đức Chúa. Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giê-su đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:
"Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài."
Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Si-mê-ôn vừa nói về Người. Ông Si-mê-ôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà."

II. SUY NIỆM

Sự kiện dâng Chúa Giêsu vào đền thánh và thánh tẩy Đức Trinh Nữ đã được thánh sử Luca ghi lại (Lc 2,22-39). Sự kiện này nhằm thực hiện những lề luật đã được ghi rõ trong sách Lê-vi Lv 12,8 và Xuất Hành 13,2. Trung tín với lề luật, Mẹ Maria và thánh Giuse đã đem hài nhi lên Giêrusalem tiến dâng cho Thiên Chúa Cha. Trong biến cố trọng đại này, làm nổi bật lên hai đặc điểm sau đây:
- Chu toàn lề luật.
- Cộng tác trong chương trình cứu độ.

1. Chu toàn lề luật.
Biến cố Mẹ và thánh Giuse đem Đức Giêsu vào đền thánh để dâng cho Thiên Chúa được Tin Mừng Luca lồng ghép hai nghi thức thánh tẩy cho Mẹ sau khi sinh và dâng Đức Giêsu (Con đầu lòng) cho Thiên Chúa thành một. Có người cho rằng đây là một cách Luca dùng để ngầm ý làm nổi bật sự kết hợp giữa Đức Giêsu và Mẹ Người trong việc tiến dâng cho Thiên Chúa Cha. Luca muốn diễn tả biến cố này là một sự thánh tẩy đền thờ hơn là Mẹ được thanh tẩy. Thật vậy, cách trích dẫn Cựu Ước ở đây, cho thấy Luca chú ý đến tính thần học hơn là về phương diện lịch sử.
Có lẽ thánh ký Luca không quan tâm lắm đến việc Mẹ cần tẩy uế, vì Người không thể bị ô uế khi sinh ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Chí Thánh và thanh sạch, cũng như Mẹ là Đấng thanh sạch vì được tràn đầy ân sủng, nên lễ thanh tẩy ở đây có lẽ Luca muốn ám chỉ đền thờ Giêrusalem. Vì từ khi Hòm Bia bị mất (vào 587), đền thờ đã trở nên trống rỗng và xem như Thiên Chúa không còn hiện diện nữa. Nay Đức Giêsu Cứu Thế đến, đền thờ lại được tràn đầy, Thiên Chúa lại hiện diện, và như thế, đền thờ được tẩy uế. 
Cách kể chuyện của Luca còn cho thấy việc dâng Chúa Giêsu trong đến thánh như là một cuộc gặp gỡ giữa Cựu Ước và Tân Ước (giữa Simêon và Anna đại diện cho Cựu ước với Đức Giêsu là Đấng khai mở Tân Ước). Trong khi Matthêu cố minh chứng Đức Giêsu chính là Môisê mới, thì có vẻ như Luca lại thích áp dụng Đức Giêsu như là vị ngôn sứ Samuel mới. Thực ra Luca thấm nhuần hình ảnh của Samuel từ bài ca của bà mẹ hiếm muộn Anna, cho đến việc Samuel được bà Anna dâng vào đền thờ để phục vụ Thiên Chúa (x. 1Sm 1, 22-28); còn “cha mẹ Đức Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người” (Lc 2, 27). Điều này cho thấy Giuse và Maria tuân giữ lề luật rất kỹ càng, làm cho việc “sống dưới lề luật” của Đức Giêsu càng nổi bật.

2. Cộng tác trong chương trình cứu độ.
Lời tiên báo của ông Simêon: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn hồn Bà” (Lc 2, 35) là một mặc khải về viễn tương đau khổ của Đức Giêsu cũng như của chính Mẹ Maria, và từ đó cùng với Con mình, Mẹ Maria bước vào cách mãnh liệt sự hiệp thông cứu chuộc, để tâm hồn nhiều người được tỏ lộ, Mẹ đồng hành với công cuộc truyền giáo của Con và kết hiệp với hy tế của Con (sosio passionis) hầu mưu cầu sự cứu rỗi cho con người. Lời của ông Simeon như một cuộc truyền tin thứ hai cho Mẹ; vì đã cho Mẹ thấy chiều kích cụ thể trong lịch sử, trong đó Con của Mẹ sẽ thực hiện sứ vụ của mình: giữa sự cứng tin và trong đau khổ. Một mặt, nếu lời loan báo này xác nhận niềm tin của Mẹ vào việc Thiên Chúa sẽ thực hiện các lời hứa, thì mặt khác cũng cho thấy Mẹ phải sống sự vâng phục đức tin trong đau khổ, bên cạnh Đấng Cứu Độ khổ đau; chức năng Từ Mẫu của Mẹ sẽ nằm trong bóng tối và sự đau xót. Đặc biệt, dưới chân thánh giá, nhờ lòng tin, Mẹ chia sẻ vào mầu hiệm kinh hoàng của sự tự hạ. Có lẽ đó là sự tự hạ (kénosis) sâu xa nhất của đức tin trong lịch sử loài người. Nhờ đức tin, Mẹ Maria tham dự vào cái chết cứu độ của Con mình; nhưng khác với đức tin của các môn đệ đang chạy trốn, đức tin của Mẹ thật chói ngời. Qua thập giá, Đức Giêsu đã chứng thực cách dứt khoát trên đồi Calvê rằng Người là “dấu hiệu bị người đời chống báng” như ông Simeon đã báo trước. Đồng thời, ở nơi đó những lời nói về Mẹ cũng thành tựu: “Phần Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu lòng Bà”.
Cũng như Đức Kitô đã chấp nhận chịu thử thách đau khổ không phải do tội của Người, mà là vì gánh lấy tội thế gian, Mẹ thánh thiện đã chịu đau khổ nhiều khi dâng lên Chúa Cha sự đau khổ của Đức Kitô và sự đau khổ của chính mình như Mẹ của Đấng Cứu Thế. Mẹ thông hiệp đầy đủ vào hy tế của Con trong giai đoạn có tính cách lịch sử của nó. Sự đau khổ của Con Thiên Chúa thì vô cùng và sự đau khổ của Mẹ cũng thật lớn lao.

Lạy Chúa Giê-su,
Chúa đã trở thành trẻ thơ cho người ta nâng niu và ôm ẵm. Chúa đã cảm nhận tình yêu chia sẻ của con người. Xin cho chúng con biết mở rộng vòng tay đón nhận và tôn trọng mọi người, nhất là các trẻ thơ vô tội. Xin cũng giúp chúng con biết noi gương Mẹ Maria mà cộng tác với Chúa trong việc cứu độ nhân trần. Amen.

Hiền Lâm.
http://danvienphuocly.com/suy-niem-moi-ngay/suy-niem-tuan-bat-nhat-giang-sinh-hien-lam-485.html

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

Lễ Thánh Gia Thất

 
CHÚA NHẬT TRONG TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH – năm C

 
Mt 2,41-52
 
THÁNH GIA VÀ THÁNH GIÁ
Thời trung cổ trở về trước, một số nhà tu đức từng quan niệm về sự cheo leo của bậc sống gia đình và thậm chí coi bậc hôn nhân như là một cấp thấp. Người ta từng giải thích rằng, đường trần gian đến quê trời ngăn cách như là một con sống lớn, trong đó các giáo sĩ (linh mục) thì an toàn đi trên cầu để qua, tu sĩ cũng khá an toàn khi ngồi trên những chiếc thuyền dù có phần bấp bênh, còn giáo dân thì phải bơi lội qua sống nên cheo leo lắm. Một vài vị giáo phụ lại cho là: người đi tu thì đi trên cầu (vì được bảo vệ an toàn trong các Đan viện), còn người sống ngoài "thế gian" thì phải lội sông nên ba phần thì mất hết hai.
Không đâu, sự thật thì "nếu không có đời sống hôn nhân thì lấy đâu ra người sống ơn gọi thánh hiến". Việc thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II ngày 21 tháng 10 năm 2001 trong dịp mừng 20 năm tông huấn "Familiaris Consortium (1981-2001) về sứ mạng hôn nhân của Kitô hữu" đã phong chân phước cho cặp vợ chồng là ông Luigi Beltrame Quattrocchi và bà Maria Corsini. Đặc biệt trong lễ này có hai linh mục là con của ông bà này đồng tế với Đức thánh cha, ngoài ra còn có hai soeur nữa cũng là con của hai ông bà này.
Và rồi bảy năm sau, ngày 19-10-2008, cặp vợ chồng Louis Martin và Zélie Guérin là song thân của thánh nữ Tê-rê-xa HĐGS. Và hai ông bà đã được tôn phong hiển thánh trong tháng 10 (2015) vừa qua.
Như vậy, chẳng phải cha linh hướng của thánh Tê-rê-xa (giáo sĩ), hay soeur bề trên của thánh Tê-rê-xa (tu sĩ) được phong thánh, mà là ông bà cố thánh Tê-rê-xa được phong thánh.
Điều này, Giáo hội minh nhiên khẳng định, không có bậc sống nào là thấp kém, đồng thời đề cao vai trò của gia đình, bởi gia đình đóng vai trò quan trọng trong Giáo hội và xã hội.
Phải, không bậc sống nào chắc chắn nên thánh, nhưng ai chu toàn nghĩa vụ và trách nhiệm trong sự tín thác vào Thiên Chúa mới là thánh. Chẳng ai đi trên cầu hay lội dưới sông cả, mà tất cả cùng phải đi qua cùng một "cây cầu duy nhất là thánh giá" mới vào được Nước Trời. Cuộc đời THÁNH GIA gắn liền với THÁNH GIÁ là vậy. Chúa Giê-su, Đức Mẹ và thánh Giuse đã cùng qua thập giá mới vào vinh quang. Thập giá của các ngài được diễn tả qua bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe.
Bài Tin Mừng hôm nay là câu chuyện Hài Nhi Giê-su đi lễ mà quên trở về nhà, "báo hại" thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a mất ba ngày trời chạy đôn chạy đáo để đi tìm, cuối cùng gặp thấy Bé Giê-su đang ngồi "tám" với mấy ông biệt phái và quý ngài tiến sĩ ở đền thờ. Đâu phải như ngày nay có các phương tiện truyền thông liên lạc, và cũng chẳng có các phương tiện giao thông di chuyển hiện đại như bây giờ, ông bà Giu-se về tới nhà rồi lại lo quay trở lại đi tìm con, thiết tưởng phải bộ hành cả ngày lẫn đêm. Một thử thách không hề nhẹ, và biết đâu cũng là một sự nhẫn - nhịn đức độ của thánh Giu-se khi Bé Giê-su ở lại mà "quên xin phép". Điều này cho thấy, ngay mới những ngày đầu tiên của mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa, thánh Giu-se và mẹ Maria đã phải gặp trăm chiều thử thách về niềm tin, khi phải đối diện với muôn vàn gian khó để bảo vệ và chăm sóc cho Hài Nhi bé nhỏ.
Thánh gia đã chu toàn bổn phận và trách nhiệm của mình:
 
1. Thánh Giu-se - mẫu mực cho các bậc gia trưởng.
Là dưỡng phụ của Đấng là Vị Cứu Tinh, là Thiên Chúa Ngôi Hai, là Con Đấng Tối Cao, là “chồng” của Mẹ Thiên Chúa… ấy thế mà người con ấy và người mẹ ấy xem ra chẳng có gì nổi bật, thậm chí còn bị những kẻ là phàm nhân như Hê-rô-đê truy sát, phải lang thang nơi xứ người, bản thân phải đem vợ con trốn chui trốn lủi cả đêm và phả đi làm thuê làm mướn để nuôi gia đình… Liệu có khi nào thánh Giu-se khủng hoảng niềm tin với Đấng mà mình dưỡng dục hoặc nghi ngờ về người bạn đời là Mẹ Thiên Chúa không? Bởi tại sao Đấng là Con Thiên Chúa lại không ra tay can thiệp? Nếu là chúng ta, chúng ta thử đặt mình vào vị trí của thánh Giu-se, chúng ta có phàn nàn kêu trách Chúa và nghi ngờ về Người không?
Thánh Giu-se đã hoàn thành sứ mạng của một người chồng, người cha trong gia đình và đã đưa Chúa Giê-su và Đức Mẹ về nơi an toàn tại Na-za-rét để sống chung trong một gia đình thánh. Trong tư cách làm chồng, chúng ta được mời gọi sống theo gương thánh Giu-se yêu thương, giúp đỡ, bao bọc chở che cho vợ chứ không là người đánh đập hay đay nghiến vợ; luôn thương yêu và lo lắng cho gia đình luôn được êm ấm, và gặp khi thử thách cũng không kêu ca nản chí.
 
2. Thánh Mẫu Maria – gương sáng cho các bà mẹ.
Mẹ Maria biểu lộ người vợ hiền luôn gắn bó và đồng hành với thánh Giu-se trên mọi nẻo đường. Khi cùng thánh Giu-se trở về quê quán làm sổ kiểm tra ở thành đô hay lúc phải trốn qua Ai Cập, lẫn khi trở về Na-za-rét, hoặc lúc lạc mất Chúa Giê-su ở đền thờ, Mẹ Maria cùng chung chia vui buồn sướng khổ với thánh Giu-se. Tình yêu biểu lộ qua sự tâm đầu ý hợp và sống nên một với nhau. Mẹ Maria cùng chung một niềm tin can trường trước những éo le của cuộc sống, Mẹ không oán thán hay nghi ngờ vì tại sao con mình là Chúa lại phải bách hại và gia đình phải lầm than cơ cực. Mẹ sống âm thầm xin vâng, lo lắng cho Chúa Giê-su được ngày càng lớn lên trong ân nghĩa.
Noi gương Mẹ Maria, những người vợ và là người mẹ công giáo, chúng ta cũng được Lời Chúa mời gọi biết phục tùng chồng trong yêu thương và tôn trọng nhau cho xứng với những người thuộc về Chúa. Đồng thời chu toàn bổn phận nuôi dạy con cái nên người.
 
3. Chúa Giê-su – gương sống cho những người con trong gia đình.
Trong gia đình Thánh Gia, mặc dù là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể làm người, Chúa Giê-su vẫn hoàn toàn chu toàn bổn phận với Chúa Cha trong tư cách là Con Thiên Chúa (x. Lc 2,49) và chu toàn bổn phận là con trong một gia đình khi sống đời khiêm hạ và hằng vâng phục Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se (x. Lc 2,51). Người ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa (x. Lc 2,40).
Như vậy, noi gương Chúa Giê-su, trong phận làm con, chúng ta có bổn phận hiếu kính cha mẹ mình. Sự hiếu kính đó không chỉ là điều hợp với lẽ phải, hợp với khao khát chính đáng của con người, nhưng còn là điều đẹp ý Chúa. Bởi lẽ Thiên Chúa muốn con cái thờ cha kính mẹ (x. Đnl 5,16). Bởi lòng hiếu thảo của con cái là quà tặng đẹp nhất dâng cho cha mẹ và được Chúa chúc lành.
 
Tóm lại, mừng Lễ Thánh Gia hôm nay, mời gọi mọi người Công Giáo chúng ta sống thánh trong chức phận của mình cách cụ thể. Mỗi thành viên trong gia đình hãy biết vun đắp cho gia đình nên trong ấm ngoài êm, biết lo lắng, hy sinh, nhường nhịn và tha thứ cho nhau (x. Cl 3,13).
Gia đình được ví như Hội Thánh tại gia, nơi ươm mầm tương lai cho Giáo Hội. Mỗi thành viên trong gia đình hãy cùng cộng tác với nhau, xây dựng gia đình mình thành mái ấm tình thương, thành nơi chan chứa tình bác ái và yêu thương. Và sự yêu thương đó lan toả trên gia đình lối xóm và mọi nơi, để mọi người nhìn thấy Chúa đang hiện diện thực sự trong gia đình, mà ca ngợi Thiên Chúa.
 
Lạy Chúa,
Gia đình được ví như Hội Thánh tại gia, nơi ươm mầm tương lai cho Giáo Hội. Xin cho mỗi thành viên trong các gia đình biết cùng cộng tác với nhau, xây dựng gia đình mình thành mái ấm tình thương, thành nơi chan chứa tình bác ái và yêu thương. Và sự yêu thương đó lan toả trên gia đình lối xóm và mọi nơi, để mọi người nhìn thấy Chúa đang hiện diện thực sự trong gia đình, mà ca ngợi Thiên Chúa. Amen.
  

Hiền Lâm.
http://danvienphuocly.com/bai-giang/chua-nhat-trong-tuan-bat-nhat-gs-le-thanh-gia-thanh-gia-va-thanh-gia-hien-lam-482.html

Ngày 26/12: Lễ kính thánh Stephano Tử đạo tiên khởi



I BÀI TIN MỪNG: Mt 10,17-22

"Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết. Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.
"Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

II. SUY NIỆM
Liền sau việc kính nhớ ngày Con Thiên Chúa giáng sinh vào trần thế, Giáo Hội mừng một người con ưu tú – vị tử đạo đầu tiên đi vào cõi trời vinh hiển – là thánh Stephano.
Thánh Stephano là một trong 7 vị phó tế đầu tiên của Giáo Hội do chính các Tông Đồ tuyển chọn và đặt tay ban Thánh Thần. Với cái chết oai hùng của thánh Stephano, đã làm ứng nghiệm, đã sống và chết theo Lời Thầy Chí Thánh đã tiên báo trong bài Tin Mừng hôm nay.
Chúa Giêsu đã tiên báo về sự bách hại mà các tông đồ và những ai bước theo Chúa sẽ phải chịu, nhưng trong mọi thử thách bách hại luôn có Chúa đồng hành để ban Thánh Thần soi sáng và sức mạnh để làm cho các chứng nhân nên kiên vững và làm chứng cho Người.

1 - Chịu bách hại vì mang danh Chúa.
Chúa Giêsu tiên báo điều này đã ứng nghiệm từng câu chữ trong những thời kỳ bách hại. Biết bao người mang danh Kitô hữu đã phải chịu bắt bớ, ngược đãi, loại bỏ, tù đày, tra tấn và bị giết chết để làm chứng cho Chúa Kitô.
Ngày nay, sự bách hại vẫn diễn ra, nhưng mang tính tinh vi và trường kỳ. Vì danh Chúa, người môn đệ phải đối diện với những thử thách do nội tâm, do xác thịt, do cuộc sống và do xã hội gây nên.
Để được vinh thân phì gia và được ca tụng, không ít người Công Giáo đã không ngại “chối Chúa” là từ bỏ lề luật, bỏ đạo để bán mình cho “tà thần”(…). Nhẹ hơn, không ít người giấu diếm để khỏi người khác biết mình là người Công Giáo vì sợ bị chê cười hoặc bị kỳ thị trong công việc… Còn những ai dám sống thật và dám làm chứng cho Chúa và cho sự thật thì cái giá họ phải trả là chịu bách hại đủ đường từ chính thể chế chúng ta đang sống cũng như mất đi những cơ hội tiến thân…
Là Kitô hữu, chúng ta vẫn thích một sự dễ dãi hơn là những hy sinh sớm tối. Gặp khó khăn chúng ta không dám đối diện với sự thật mà tìm cách né tránh; gặp đau khổ thì dễ than trách hơn là nhẫn nhục lập công phúc trước mặt Chúa.

2 - Ơn soi sáng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
Chúa Giêsu khích lệ: “Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước mặt những người lãnh đạo và những người cầm quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa làm sao, và phải nói gì, vì ngay trong giờ đó Thánh Thần sẽ dạy cho anh cho anh em biết những điều phải nói”.
Chúa Thánh Thần hướng dẫn con người đi tìm chân lý, đi tìm sự thật. Qua mọi thời và mọi nơi, Chúa Thánh Thần an ủi và nâng đỡ Giáo Hội và các Kitô hữu can đảm tuyên xưng đức tin. 
Thật vậy, trong hành trình sống đạo, chúng ta có Thiên Chúa luôn quan phòng đồng hành qua bảy ân sủng của Chúa Thánh Thần, nhất là sự khôn ngoan, hiểu biết và mạnh bạo để làm chứng cho Chúa. Tình thương Thiên Chúa luôn quan tâm săn sóc con người bao bọc và bảo vệ con người, nên hãy luôn tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa. 

Lạy Chúa Giêsu, giữa cuộc đời này, chúng con luôn bị giằng co giữa tin hay không tin, chọn Chúa hay chọn thế gian, chọn hy sinh từ bỏ hay thoả hiệp tình cảm, thú vui, danh vọng và quyền lực. Xin cho chúng con, một khi đã tin vào Chúa, phải sẵn sàng vượt lên và thậm chí trên cả tình cảm gia đình ruột thịt để dứt khóat chọn Chúa, bước theo và làm chứng nhân cho Ngài. Amen.

Hiền Lâm.
http://danvienphuocly.com/suy-niem-moi-ngay/ngay-26-12-thanh-stephano-le-kinh-hien-lam-481.html

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2015

Ngày 22 tháng 12


 
I. BÀI TIN MỪNG: Lc 1,46-56
Bấy giờ bà Ma-ri-a nói:
"Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
thần trí tôi hớn hở vui mừng
vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn,
Người đoái thương nhìn tới;
từ nay, hết mọi đời
sẽ khen tôi diễm phúc.
Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
biết bao điều cao cả,
danh Người thật chí thánh chí tôn!
Đời nọ tới đời kia,
Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
vì Người nhớ lại lòng thương xót
dành cho tổ phụ Áp-ra-ham
và cho con cháu đến muôn đời."
Bà Ma-ri-a ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà.
 
II. SUY NIỆM
Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong bối cảnh của cuộc thăm viếng. Mẹ Maria khi gặp chị họ là bà Elizabeth, Mẹ đã thốt lên bài ca chúc tụng Thiên Chúa, quen gọi là lời kinh MAGNIFICAT được đọc trong Giờ Kinh Chiều mỗi ngày.
 
Xuất xứ của lời kinh Magnificat cho đến nay vẫn chưa hết những tranh luận của nhiều nhà thần học, nhưng dựa theo chính những lời được thốt ra trong lời kinh “Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” mà đặc ân “đầy ơn phúc” lúc này chỉ có nơi Đức Maria và được khẳng định qua sứ thần Gabriel cũng như của bà Elisabeth, nên ta không nghi ngờ gì nữa mà chắc chắn lời kinh này được hát lên từ môi miệng Đức Maria, ca ngợi lòng thương xót của Chúa đã thực hiện lời hứa cứu chuộc dân Người. Tuy lời kinh hoạ lại tâm tình của bà Anna mẹ của Samuel (x. 1Sm 2, 1- 10) cùng với những chắt lọc ý nguyện của các lời kinh Cựu Ước đương thời, nhưng quan trọng hơn cả là được đọc trong một tâm tình của một người nữ tỳ được chọn làm Mẹ Thiên Chúa và cộng tác trực tiếp trong chương trình cứu độ.
 
Kinh Magnificat được khởi đầu bằng niềm vui của một con người được cứu độ (x. Lc 1, 47), kế đến nói lên lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho những ai hèn mọn (x. Lc 1, 48- 53). Đặc biệt, điều được nói đến nhiều nhất là sự đối nghịch giữa thế lực giàu và người nghèo bị áp bức, và Thiên Chúa đã yêu thương cứu giúp người nghèo khó khiêm hạ.
 
Có thể nói, Đức Maria đã cất lên bài ca của những người bị áp bức, mà trong đó Mẹ và bà Elisabeth diễn tả mối bận tâm của mình dành cho dân Israel. Đức Maria đã nhận vào trong con người của Mẹ một cảm thức và mối bận tâm của bà Anna sau khi bà này sinh hạ Samuel, và ca ngợi về tất cả những điều này vào trong một bài ca biết ơn. Luca giữ lấy cảm thức này cho chúng ta trong kinh Magnificat mà ngài đặt như là một lời dẫn cho việc công bố của Đức Giêsu về sứ mạng của Người là giải phóng người nghèo và những kẻ bị bỏ rơi (Lc 4, 18- 19).
 
Cụm từ tapeinoi (tapeinoi) hoặc anawim (anawim) theo ngôn ngữ Hy Lạp muốn nói về một người nghèo bình thường, không quyền hành, không ảnh hưởng. Khi hát lên lời này, Đức Maria như muốn tuyên bố, Thiên Chúa không đánh giá con người theo tiêu chuẩn trần thế. Những con người thành đạt, giàu sang và leo lên đỉnh cao quyền lực, có lẽ sẽ làm cho mọi người kính nể và sợ sệt, nhưng đối với Thiên Chúa thì không. Giàu sang và quyền lực trần thế chỉ là thứ chóng qua như “con người chóng qua như cỏ”. Thiên Chúa chú tâm đến người góa bụa, trẻ mồ côi, người hèn mọn, những con người không có chút quyền hành gì, những con người vô tích sự trước mắt người đời. Kẻ giàu sang quyền thế thường thoả mãn về mình; người nghèo hèn chỉ trông cậy vào Thiên Chúa. Kinh Magnificat là tuyên ngôn: Thiên Chúa là Thiên Chúa của người nghèo và người bị áp bức; phúc cho người nghèo vì có Thiên Chúa là Đấng luôn chăm sóc họ. Đức Maria là mẫu gương sự nghèo khó và lời kinh Magnificat mà Mẹ hát lên phản ánh việc Mẹ đứng về phía những người bị áp bức. Điều này làm cho lời kinh này mang một tính cách mạng vĩ đại: cần phải thay đổi vị trí xã hội để mọi người được bình đẳng trước mặt Thiên Chúa.
 
Tóm lại: Lời kinh Magnificat được thốt lên trong bối cảnh của cuộc thăm viếng bà chị họ Elisabeth, bao hàm hành trình truyền giáo đầu tiên của Mẹ Maria với đầy đủ tính năng của một cuộc truyền giáo thực thụ, khi Mẹ đem Chúa Giêsu đến cho người khác và trao ban Chúa Giêsu để những người lãnh nhận được tràn ngập niềm vui vì được cứu độ. Điều này cũng tựa như việc Phêrô cho anh què ở Cửa Đẹp Đền Thờ chính Chúa Giêsu và anh được chữa lành để rồi anh nhảy nhót tưng bừng ca ngợi Thiên Chúa. Biến cố thăm viếng làm nổi bật lên đặc trưng của người môn đệ là: Đức tin, đức ái và cảm thông -nghĩa là mỗi Ki-tô hữu đều mang trên mình niềm tin phó thác cho công trình cứu độ của Thiên Chúa, thực hiện đức ái Kitô bằng việc dấn thân phục vụ và trao ban niềm vui, đồng thời cảm thông và bênh vực cho những người nghèo hèn và những người bị áp bức trong xã hội.
 
Lạy Chúa, xin dạy chúng con sống tinh thần của Mẹ Maria là sống trong ơn nghĩa của một tâm hồn đầy Chúa, cưu mang Chúa trong trái tim mình, để rồi mau mắn đem Chúa đến cho tha nhân. Đặc biệt cụ thể hoá việc làm chứng cho Chúa qua chính đời sống phục vụ. Amen.
 
Hiền Lâm.
\http://danvienphuocly.com/suy-niem-moi-ngay/doc-va-suy-niem-tin-mung-ngay-19-den-24-thang-12-hien-lam-466.html

Ngày 21 tháng 12



 
I. ĐỌC TIN MỪNG: Lc 1, 39-45
Hồi ấy, bà Ma-ri-a vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét. Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em."
 
II. SUY NIỆM
Con Thiên Chúa, từ ngày truyền tin, lại còn là con Đức Maria. Hồng ân ấy, Đức Maria không giữ cho riêng mình, Người đã vội vã lên đường, đi thăm người bà con để chia sẻ cho nhau. Ở Nazareth, Đức Maria là người đầu tiên được mạc khải cho biết sự mang thai lạ thường của Elisabeth, một người chị họ ở làng Ain Carem. Sự xuất hiện của Mẹ sau tiếng chào đã làm cho bà Elisabeth được tràn đầy Thánh Thần và Gioan Tẩy Giả được cứu độ.  Biến cố gặp gỡ giữa Maria và Elisabeth đã làm nổi bật lên tầm quan trọng của đức tin trong việc đón nhận, gặp gỡ và trao ban.
 
1. Gặp gỡ
Sự gặp gỡ là khởi đầu cho những giao ước và nối kết các mối liên hệ trong cuộc sống. Muốn gặp gỡ đòi hỏi phải ra khỏi mình, ra khỏi chính nơi yên ổn của mình, ra khỏi những vướng bận ràng buộc mình để đến với tha nhân. Chính vì vậy, mà với khoảng cách giữa Nazareth và Ain Carem cả trăm cây số, nhưng vì tình yêu và muốn đem Chúa đến cho người chị họ, nên Mẹ Maria đã không quản ngại ra đi để gặp gỡ bà chị, dù khi đi phải chấp nhận nhiều từ bỏ đầy rủi ro.
Nhưng theo Tin Mừng, để có được cuộc gặp gỡ này, đòi hỏi một sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, từ đó mới dám ra đi, mới dám dấn thân không ngại rủi ro đường xa nguy hiểm. Tin rằng Chúa đã thực hiện cho mình và tin rằng Chúa cũng đã rất thương đối tượng mình gặp gỡ.
Thật vậy, lúc nhận lời mời gọi của Thiên Chúa, Đức Maria cũng chưa biết Thiên Chúa sẽ đưa mình tới đâu, nhưng Đức Maria chắc chắn tin vào Thiên Chúa và chương trình của Người. Chính lòng tin sắt đá ấy đã làm cho Đức Maria xứng đáng được đón nhận Chúa Giêsu Kitô vào trong dạ mình, thông chia cho Người bản tính nhân loại để Người trở nên một phần tử loài người mới, và bắt đầu từ đó, một nhân loại mới đã được thai sinh. Chức vụ làm mẹ này là kết quả của lòng tin nơi Đức Maria vào Thiên Chúa. Đức Maria không những được tôn vinh về chức vụ làm Mẹ Đấng Cứu Thế về mặt thể xác, nhưng Mẹ còn cao trọng hơn mọi người về mặt đức tin. Đức Thánh Cha Phaolô VI đã nói: “Đức Maria là người môn đệ đầu tiên trọn hảo nhất của Đức Kitô và trọn hảo nhất về mặt đức tin”. Nếu Abraham là “tổ phụ những kẻ tin” (x. Rm 4, 12), thì Đức Maria là hiện thân sự hoàn hảo của đức tin. Abraham ra đi còn có một lời hứa “đất và dân”; Đức Maria đón nhận trách nhiệm trong một niềm tin phó thác mạng sống mình vào tay Thiên Chúa. Dù không có bất cứ một lời hứa nào, Đức Maria vẫn phó thác và đi hết con đường vâng phục của mình trên trần gian. Thiên Chúa còn sai sứ thần nắm bàn tay sát tế của Abraham để khỏi hạ gươm giết con một mình, còn Đức Maria không thấy bàn tay nào ngăn cản các lý hình giết chết Người Con yêu dấu .

2. Trao ban
 Đọc Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng của Đức Thánh Cha Phanxico, chúng ta hình dung ra ngay lúc này đây qua bài Tin Mừng, cảnh hai con người tràn ngập niềm vui: Niềm vui Mẹ đem Chúa đến cho nhà Giacaria, niềm vui của bà Eliazabeth phải kêu lên, niềm vui của Gioan trong bụng mẹ phải nhảy lên vui sướng, niềm vui của hai bà mẹ hạnh phúc vì đều đang được mang trong mình một mầm sống mới.
Niềm vui chỉ thật sự viên mãn khi biết chia sẻ niềm vui, và khi chia sẻ thì cũng được nhận lại niềm vui để nên phong phú và trọn vẹn. Mẹ Maria đem niềm vui đến chia sẻ cho bà Elizabeth, thì cùng lúc mẹ đón nhận niềm vui vì Chúa đã thương cất đi nỗi nhục nhằn son sẻ của bà chị họ.
Niềm vui càng nên trọn vẹn khi được cụ thể hóa bằng lời ca ngợi Chúa và phục vụ nhau. Mẹ Maria đã thốt lên bài ca Magnificat bất hủ và tận tình phục vụ bà chị họ Elizabeth trong thời kỳ thai nghén. Một tấm gương tuyệt diệu của “Bà Chúa” đối với con người.
Dù được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ vì đã cưu mang Con Thiên Chúa, cưu mang Đấng Cứu Thế mà cả dân Israel và muôn dân trông đợi, nhưng Đức Maria đã không tự coi mình cao trọng trong phẩm vị “Hoàng Thái Hậu” mà hạ mình để phục vụ, mà người đầu tiên được diễm phúc Mẹ Thiên Chúa đến phục vụ là bà Elisabeth. Nếu Đức Giêsu là Chúa và là Thầy mà đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ, thì trước đó chính Mẹ Người là Mẹ Thiên Chúa đã hạ mình phục vụ một thụ tạo, và với một công việc rất thấp hèn suốt một thời gian ba tháng theo lời kể của Luca (x. Lc 1, 56).

Lạy Chúa, như Mẹ Maria đã chia sẻ vào mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô trong tất cả chiều kích cuộc đời trần thế của Người, đặc biệt trong sự gặp gỡ và phục vụ. Xin cho chúng con trong cuộc lữ hành đức tin cũng biết noi gương Mẹ Maria, là sẵn sàng ra khỏi mình để đến gặp gỡ tha nhân, để phục vụ và trao ban Chúa cho họ. Amen.
 
Hiền Lâm.
http://danvienphuocly.com/suy-niem-moi-ngay/doc-va-suy-niem-tin-mung-ngay-19-den-24-thang-12-hien-lam-466.html
 

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2015

Ngày 18 tháng 12


I. BÀI TIN MỪNG: Mt 1, 18-25

Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ." Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta." Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su.
II. SUY NIỆM

Suốt thời gian đầu Mùa Vọng, chúng ta được nghe nhiều về một nhân vật tiền hô cho Chúa Giê-su là Gioan Tẩy Giả, hôm nay, trong những ngày cận kề Lễ Giáng Sinh, Tin Mừng giới thiệu cho chúng ta một nhân vật đặc biệt là thánh cả Giu-se, là người cha “pháp lý” của Chúa Giê-su trong sự kiện nhập thể, giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giê-su.
Tin Mừng diễn tả sự kiện trăn trở của thánh cả Giuse (người công chính) khi chưa nhận được lời giải thích từ sứ thần Chúa. Đồng thời, Tin Mừng cũng giới thiệu thánh Giuse là người cha “hợp pháp” trong gia đình Thánh Gia.
Chúng ta cùng chia sẻ hai điểm:
1. Thánh Giuse – Người Công Chính.
Trong thời Cựu Ước, xuất hiện một vĩ nhân có tên là Giu-se (con của tổ phụ Gia-cóp, bị bán qua Ai-cập), người được mệnh danh là “người công chính” khi từ chối thoả mãn xác thịt với bà vợ của một vị quan trong triều đình, và chấp nhận án oan rồi bị tống giam; rồi sau khi giải mộng cho vua Pha-ra-ô, Giu-se được cất nhắc lên chức tể tướng và quản lý lương thực của Ai-cập; để rồi khi dân đói đến kêu xin vua Pha-ra-ô thì vua bảo: “Hãy đến cùng Giu-se”.
Danh hiệu “người công chính” gán cho ông Giu-se thời Cựu Ước, nay được thánh ký Mát-thêu dành cho thánh cả Giu-se, và câu nói của vua Pha-ra-ô “hãy đến cùng Giu-se” xưa cũng được Người Công Giáo xưa nay dành cho thánh cả Giu-se, khi làm biểu ngự đặt dưới chân tượng thánh Giu-se: “Ite ad Joseph”.
Tuy nhiên, trong sự kiện mà bài Tin Mừng hôm nay tường thuật, câu “Giu-se là người công chính” (Mt 1,19) phải hiểu như thế nào?
Có người vì đạo đức đã suy tư rằng, vì thánh Giu-se cảm thấy mình không xứng đáng với Đức Mẹ và Chúa Ngôi Hai nên đã tìm cách rút lui. Điều này rất không chính xác, ai giải thích như thế là không đọc Tin Mừng cho đầu đuôi, cắt lấy một cái ngọn rồi chú giải sai.
Bởi vì, đọc tiếp Tin Mừng, sẽ thấy chuyện Giuse muốn dùng kế “đào vi” để “rút êm” khi chưa được thiên thần báo mộng cho biết bào thai từ lòng Đức Mẹ là do đâu. Cho đến khi được thiên thần giải thích: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20). Khi biết được rõ ràng cái bào thai không do “tác giả” nào khác, mà là do quyền năng Chúa Thánh Thần, thánh Giuse đã đón Đức Mẹ về (không biết có làm đám cưới không nữa?).
Chuyện như thế, tại sao, thánh sử Mát-thêu lại gọi thánh Giu-se là người công chính?
Tin Mừng giải thích rằng: “Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19).
Để giải thích, chúng ta cần biết rằng, Tin Mừng nói rõ mẹ Maria đã thành hôn với ông Giu-se (x. Mt 1,18), dù chưa về chung sống, nhưng nếu Maria có thai với “ai khác” thì bị kết vào tội ngoại tình, mà theo luật Do Thái, tội ngoại tình sẽ bị đưa ra giữa thanh thiên bạch nhật và bị ném đá chết. Có lẽ đây là một dằn vặt lớn nhất cho thánh Giuse, bởi nếu tố cáo thì chắc chắn Maria sẽ bị ném đá chết. Thế rồi, Giu-se chọn cách rút êm, sẵn sàng nhận cho mình “án oan vô trách nhiệm” không thừa nhận đứa con và người vợ, chấp nhận chịu tiếng xấu của người đời, chứ không tố cáo vợ để Maria phải chịu tử hình ném đá. Khi tìm hiểu đến đây, chúng ta thấy phảng phất lại hình ảnh của Giuse-“người công chính” trong Cựu Ước đã chấp nhận án oan, chứ không tố cáo người khác. Đấy là cách mà thánh sử Mát-thêu khôn khéo so sánh.
Như vậy, biệt danh công chính của thánh cả Giu-se, bắt đầu từ việc chấp nhận phần thiệt cho mình để cứu người khác, dĩ nhiên cả cuộc đời của thánh cả Giu-se là một Đấng Công Chính rồi.
2. Thánh Giuse – người cha pháp lý của Chúa Giê-su.
Quan niệm Phương Đông, việc đặt tên cho con trẻ nói lên quyền pháp lý của một người cha hợp pháp, chịu trách nhiệm dưỡng dục và khai sinh cho con từ dân sự đến tôn giáo.
Xét theo Thánh Kinh và nòi giống lưu truyền trong nhân loại, Chúa Giê-su nhập thể “làm người”, Người cần có một gia phả trong gia đình nhân loại. Đồng thời, để lời các ngôn sứ được ứng nghiệm nguồn gốc vương đế thuộc dòng tộc Đa-vít, mà trong đó, chính thánh Giu-se là con cháu của vua Đa-vít.
Xét theo tính pháp lý, Chúa Giê-su cần một sự hợp pháp trong việc khai sinh, mẹ Maria cần có một người chồng pháp lý về mặt dân sự, nếu không sẽ bị khai trừ khỏi đời sống tôn giáo lúc bấy giờ và bị người đời khinh miệt.
Lại nữa, Chúa Giê-su và mẹ Ma-ri-a cần một mái ấm và một nơi nương tựa, cần được bảo vệ và chăm sóc, nhất là trong thời kỳ thơ ấu của Chúa Giê-su.
Như vậy, vai trò của thánh Giu-se thật cao cả, dù chỉ là cha nuôi, nhưng thánh nhân đã chu toàn trách nhiệm dưỡng dục bảo vệ tính hợp pháp cho “bản tính nhân loại” của Chúa Giê-su, cũng như trở nên nơi nương tựa tuyệt vời cho mẹ Maria và Chúa Ngôi Hai.
Để kết thúc cho bài suy niệm, chúng ta cùng tìm hiểu thêm lời sứ ngôn Isaia về Đấng Em-ma-nu-en mà Tin Mừng nhắc tới trong chương 1 câu 23:
Bản Hy Lạp viết: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Is 7,14).
Có nhiều cách giải thích về dấu chỉ và điềm lành cho triều đại Đa-vít sau thời A-kháp, nhưng ở đây được các Kitô hữu nhìn dưới ánh sáng Phục Sinh để áp dụng cho Đức Trinh Nữ Maria sinh Đấng Emmanuel, là một Tin Vui cho nhân loại. Ngoài ra, khi nói về đức đồng trinh của Mẹ Vô Nhiễm, nghĩa là sự xứng đáng khi tiếp nhận và cưu mang Lời Chúa. Vì thế, những ai mang sứ vụ truyền giáo phải tôn trọng gìn giữ sự tinh tuyền của Lời Chúa khi được rao giảng cho nhân loại, phải được cắt nghĩa nhờ ơn soi sáng của Thánh Thần, chứ không phải do ý muốn của con người (tựa như Đức Maria cưu mang Ngôi Lời là do quyền năng Chúa Thánh Thần chứ không phải do ý muốn của nam nhân).
Lạy Chúa,
Thời đại hôm nay đang sống như vắng bóng Thiên Chúa, thậm chí như Thiên Chúa đã chết rồi. Vì thế, hơn lúc nào hết, xin giúp chúng con biết trở thành những chứng nhân sống động của Tin Mừng, để nhờ đó mà mọi người nhận ra Đức Giêsu Nazareth chính là Đấng Emmanuel đã đến, đã sống và đang sống ở giữa nhân loại. Amen.
Hiền Lâm.
http://danvienphuocly.com/suy-niem-moi-ngay/doc-va-suy-niem-tin-mung-ngay-18-thang-12-hien-lam-466.html

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

Ngày 17 tháng 12


 I. BÀI TIN MỪNG: Mt 1,1-17

Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham:
Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này; Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron; Khét-xơ-ron sinh A-ram; A-ram sinh Am-mi-na-đáp; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son; Nác-son sinh Xan-môn; Xan-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết; Ô-vết sinh Gie-sê; ông Gie-sê sinh Đa-vít.1 Vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia; A-vi-gia sinh A-xa; A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Út-di-gia; Út-di-gia sinh Gio-tham; Gio-tham sinh A-khát; A-khát sinh Khít-ki-gia; Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se; Mơ-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-gia; Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.
Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven; Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút; A-vi-hút sinh En-gia-kim; En-gia-kim sinh A-do; A-do sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-khin; A-khin sinh Ê-li-hút; Ê-li-hút sinh E-la-da; E-la-da sinh Mát-than; Mát-than sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.
Như thế, tính chung lại thì: từ tổ phụ Áp-ra-ham đến vua Đa-vít, là mười bốn đời; từ vua Đa-vít đến thời lưu đày ở Ba-by-lon, là mười bốn đời; và từ thời lưu đày ở Ba-by-lon đến Đức Ki-tô, cũng là mười bốn đời.
 
II. SUY NIỆM

Suy niệm Lời Chúa ngày hôm nay, chúng ta được mời gọi đọc lại bản gia phả của Chúa Giê-su, được thánh Mát-thêu ghi lại trong phần mở đầu Tin Mừng:
 
- Mở đầu gia phả bằng hai nhân vật đặc biệt, là một vị vua trung thành với Thiên Chúa nhất và một vị được mệnh danh là cha của kẻ tin.
Gia phả là sự xác định tương quan máu huyết của một người với những người khác thuộc cùng dòng tộc. Chúa Giêsu được gắn vào dòng tộc của Abraham và Đavít. Thánh sử Matthêu như vừa giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng Messia, vừa là trung tâm niềm tin của nhân loại.
Hình ảnh Đavít, dù hơn một lần sa ngã vì yếu đuối, nhưng vẫn được kể là vị vua trung thành tuyên nhận Thiên Chúa là chủ và hết lòng vâng phục Người trong sự nghiệp xây dựng vương quyền và đánh tan kẻ thù cho dân Do Thái. Đức Giêsu trong vai trò vương đế dòng tộc Đavít đã trở nên một Người Con trung tín và vâng phục Thiên Chúa Cha trong việc giải phóng nhân loại khỏi ách tử thần.
Abraham là cha của dân tộc Do Thái, là “dân riêng” của Thiên Chúa, là dân tộc của lời hứa đã trải qua một cuộc hành trình dài của đức tin và đã bao lần vấp ngã. Thì nay, tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô trở thành một dân mới, là con cháu Abraham trong đức tin, được hướng lời hứa và được làm con Thiên Chúa nhờ công ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô.
 
1. Một gia phả của sự đa tạp sang hèn, công chính và tội lỗi.
Trong gia phả, có cả những người công chính như Abraham và Giacóp, nhưng cũng có những người từng phạm tội ngoại tình như Đavít, thậm chí có cả những gái điếm và kỹ nữ như Tama hay Rakháp… Nhưng tình yêu thương của Thiên Chúa luôn lớn hơn tội lỗi loài người. Và không một phản nghịch nào của con người có thể phá huỷ được kế hoạch yêu thương từ đời đời của Người.
Chúa Giêsu chấp nhận trở thành ruột thịt của một nhân loại tội lỗi, mang vào mình thân phận và định mệnh chung của loài người để làm cho vận mệnh chung của nhân loại tội lỗi trở nên chính vận mệnh của Con Thiên Chúa. Thiên Chúa hạ mình xuống để nâng con người lên – Chúa làm người để con người làm chúa (St.Augustine).
Chúa không ngần ngại mang lấy họ hàng với người tội lỗi, thì đến lượt chúng ta, chúng ta có phân cấp và loại trừ nhau không?
 
2. Một gia phả của sự bình đẳng nam nữ trong Thiên Chúa.
Thời xưa và nhất là trong dân tộc Do Thái, phụ nữ hầu như không bao giơ được nhắc tới trong gia phả và không được lên tiếng nơi công cộng và không được nắm giữ công việc gì từ tôn giáo đến xã hội, thậm chí họ đứng hàng thứ sáu, đứng sau cả vật nuôi trong nhà. Nhưng trong bản gia phả, thánh sử Matthêu đã không ngần ngại nhắc tên 4 người phụ nữ là Tama, Rakháp, Rút và đặc biệt là Mẹ Maria. Đó là một bước tiến mới của thời đại Kitô giáo, thời mà mọi người đều là con Thiên Chúa, cùng thuộc dòng họ với Chúa Giêsu Kitô và cùng mang trên mình việc truyền giáo là tiếp tục sinh ra cho Chúa những người con trong đức tin.
 
Lạy Chúa Giê-su,
Chúa đã chấp nhận trở thành ruột thịt của một nhân loại tội lỗi, mang vào mình thân phận và định mệnh chung của loài người để làm cho vận mệnh chung của nhân loại tội lỗi trở nên chính vận mệnh của Con Thiên Chúa. Xin cho chúng con cũng biết sống tinh thần nhập thể và nhập thế ấy, để đem Chúa đến cho anh chị em mình đang lầm lạc chưa tin nhận Chúa. Amen.
 
Hiền Lâm.
http://danvienphuocly.com/suy-niem-moi-ngay/doc-va-suy-niem-tin-mung-ngay-17-thang-12-hien-lam-466.html